Hướng dẫn xử trí rối loạn stress sau sang chấn
Các điều tra viên cũng thấy rằng giảm chức năng thận liên quan tới huyết áp cao, đường huyết cao, béo phì/thừa cân.
Nghiên cứu mới chỉ ra rằng bệnh thận là một nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến bệnh tim trên toàn thế giới.
Dựa trên dữ liệu từ 188 quốc gia tại 6 thời điểm từ năm 1990 đến năm 2013, các nhà nghiên cứu ước tính rằng trong năm 2013, chức năng thận giảm có liên quan tới 4% các ca tử vong trên thế giới, tương đương với 2,2 triệu người.
Bệnh thận-một yếu tố góp phần gây tử vong liên quan tới bệnh tim
Hơn một nửa số ca tử vong này liên quan tới bệnh tim (1,2 triệu ca), trong đó gần 1 triệu ca gây ra bởi suy thận.
Kết quả nghiên cứu này mang đến một cái nhìn mới về ảnh hưởng đáng kể của bệnh thận và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc những rối loạn thận.
TS Bernadette Thomas ở ĐH Washington, Seattle cho biết: “Hiểu về ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh thận đòi hỏi phải xem xét những ca tử vong và tàn tật vì bệnh tim mạch cũng như bệnh thận giai đoạn cuối”.
Các điều tra viên cũng thấy rằng giảm chức năng thận liên quan tới huyết áp cao, đường huyết cao, béo phì/thừa cân.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of American Society of Nephrology.Rối loạn stress sau sang chấn (post traumatic stress disorder -PTSD) là một hội chứng phản ứng cho hành vi bạo lực hay sự kiện chấn động như chứng kiến hành vi tấn công tình dục, tai nạn, ẩu đả...
Rối loạn stress sau sang chấn (post traumatic stress disorder -PTSD) là một hội chứng phản ứng cho hành vi bạo lực hay sự kiện chấn động như chứng kiến hành vi tấn công tình dục, tai nạn, ẩu đả, thảm họa thiên nhiên hoặc cái chết đột ngột của người thân yêu. PTSD có thể cũng xuất hiện ở người có bệnh lý nghiêm trọng và đang được điều trị. Điều trị và can thiệp lâm sàng là cần thiết để hạn chế hình thành bệnh tâm thần và biến chứng, sự cách ly xã hội, trượt dốc dẫn đến rối loạn các chức năng đời sống.
Nguy cơ hình thành PTSD
Tiền sử gia đình có người mắc lo âu, bản thân thời niên thiếu bị lạm dụng, bị chia cắt với cha mẹ từ bé, thiếu sự hỗ trợ xã hội và đói kém, nữ giới, lạm dụng rượu và ma túy, có rối loạn tâm thần trước đó, đặc biệt là mắc trầm cảm trước khi xảy ra sang chấn, có khả năng tiếp tục tiếp xúc với sang chấn, rối loạn giấc ngủ ví dụ chứng mất ngủ và buồn ngủ quá mức vào ban ngày chỉ diễn ra 1 tháng sau sang chấn, cảm giác mất chỗ dựa vào thời điểm xảy ra sang chấn, tăng cường độ phản ứng stress cấp tính, tổn thương não do sang chấn.
Biểu hiện lâm sàng
Cảm giác phiền toái, khó chịu phải thuật lại sang chấn, tái diễn những suy nghĩ, hình ảnh, giấc mơ khó chịu không gạt đi được, tránh gợi nhớ lại sang chấn, tăng cảm giác biệt lập, rối loạn giấc ngủ, bùng nổ cảm giác khó chịu, giận dữ. Khả năng tập trung kém, tăng sự cảnh giác với nguy hiểm. Phản ứng thái quá một cách bất ngờ, cảm xúc lạnh nhạt, các triệu chứng chia tách.Tránh né gợi nhớ những địa điểm, hành động, con người, sống chia tách và cảm xúc thờ ơ, lạnh nhạt. Không thể thực hiện chức năng giao tiếp, xã hội, nghề nghiệp. Kéo dài hàng tháng hay lâu hơn. Mất ngủ, cáu kỉnh, tăng cảnh giác, phản ứng làm lớn chuyện một cách thái quá.
Dễ chẩn đoán nhầm
PTSD có thể được chẩn đoán nhầm và điều trị không phù hợp. Bác sĩ cần nắm được bệnh sử chi tiết để phân biệt PTSD với những tình trạng bệnh khác như là: chấn động và vết thương vùng đầu, sảng, rối loạn co giật, lạm dụng rượu và chất trong tình trạng nhiễm độc cấp hoặc hội chứng cai, rối loạn nhân cách và giả bệnh. Rối loạn ngưng thở, có thể làm tăng lên các triệu chứng PTSD, bao gồm sự bất lực và ác mộng, phản ứng stress cấp. Trong một số trường hợp, đặc điểm phân biệt giữa tình trạng đồng mắc tâm thần và biểu hiện lâm sàng của PTSD trở nên mờ nhạt. Trong những tình huống này tham khảo ý kiến từ phía gia đình và xem xét cả những kênh thông tin khác có thể là cần thiết để phân biệt các triệu chứng PTSD với triệu chứng của các bệnh lý tâm thần đồng mắc.
Điều trị thế nào?
Điều trị PTSD sẽ bao gồm can thiệp bằng thuốc và không dùng thuốc, với việc tăng cường tập trung vào quản lý khủng hoảng và giải quyết vấn đề liên quan các tác nhân stess gần đây.
Điều trị bằng thuốc: Lựa chọn thuốc nào là phụ thuộc vào triệu chứng cụ thể và tình trạng tâm thần đồng mắc đã có từ trước. Liệu pháp hóa dược cho tình trạng đồng mắc tâm thần phải được lựa chọn cẩn thận để liệu pháp bổ sung nhắm tới các triệu chứng PTSD.
Chống trầm cảm: Ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRIs), chống trầm cảm 3 vòng (TCAs) và các thuốc chống trầm cảm khác (thuốc chống trầm cảm không điển hình, MAOIs), các thuốc chỉnh khí sắc có thể được sử dụng cho mục đích điều trị triệu chứng PTSD.
Điều trị không dùng thuốc: Điều trị PTSD đòi hỏi hiểu biết về sinh học, tâm lý học, xã hội và trong một số còn cần sự can thiệp về mặt tôn giáo.
Điều trị trong thời gian dài: Sau 3 tháng đầu tiên tiến trình điều trị, PTSD cấp có thể được điều trị bằng liệu pháp tâm lý nhóm hay cá nhân. Bệnh nhân PTSD mạn nên được theo dõi thường xuyên ít nhất 6 tháng trong đợt điều trị củng cố. Một số bệnh nhân PTSD, đặc biệt có rối loạn tâm thần đồng mắc, còn có nhiều triệu chứng tồn tại trong quãng thời gian dài hơn.
Với bệnh nhân phản ứng stress cấp, bắt buộc dùng thuốc liên tục 6 đến12 tháng trước khi cân nhắc giảm liều dần. Bệnh nhân PTSD mạn có đáp ứng tốt, có thể tiếp tục điều trị 1 - 2 năm và bệnh nhân PTSD mạn có triệu chứng còn lại cần tiếp tục điều trị ít nhất 2 năm. Một số bệnh nhân sẽ phải duy trì cả điều trị thuốc và liệu pháp không dùng thuốc cho một giai đoạn mở rộng trên 2 năm.
Những lưu ý khi tiếp xúc với người bệnh
Tiếp cận một cách lịch sự, tôn trọng và lắng nghe có thể giúp nhìn nhận thực tế, hiểu và giao tiếp tốt với bệnh nhân trong buổi phỏng vấn. Tránh những động tác di chuyển hay tiếng động đột ngột trong buổi phỏng vấn vì nó có thể khiến bệnh nhân nhớ lại một chuyện hay cảm xúc không mong muốn. Điện thoại, báo thức và thiết bị điện tử bao gồm máy tính nên được để chế độ im lặng nếu có thể. Bệnh nhân nên được phép liên hệ các vấn đề của họ theo tốc độ suy nghĩ đang có. Bác sĩ lâm sàng có thể diễn giải, nhắc lại câu chuyện bệnh nhân kể để tìm ra sự thực và diễn đạt những thấu hiểu về khó khăn bệnh nhân đang chịu đựng. Thường thì bệnh nhân nhận thấy họ sẽ thoải mái khi thấy rằng phản ứng của họ đối với sang chấn mạnh đó được người khác thông cảm và họ sẽ không trở nên giận dữ.
Nghiên cứu mới chỉ ra rằng bệnh thận là một nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến bệnh tim trên toàn thế giới.
Chia sẻ bí quyết chăm sóc sức khỏe ở mọi lứa tuổi . Sức khỏe về nam giói hay nữ giới . Với các bài thuốc hay của dân gian để có được sức khỏe tốt hơn . Hay bạn thắc mắc về vấn đề sức khỏe của bé hoặc mẹ . Hãy đến với website chúng tôi để được tư vấn tốt hơn.
Bệnh thận-một yếu tố góp phần gây tử vong liên quan tới bệnh tim
Hơn một nửa số ca tử vong này liên quan tới bệnh tim (1,2 triệu ca), trong đó gần 1 triệu ca gây ra bởi suy thận.
Kết quả nghiên cứu này mang đến một cái nhìn mới về ảnh hưởng đáng kể của bệnh thận và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc những rối loạn thận.
TS Bernadette Thomas ở ĐH Washington, Seattle cho biết: “Hiểu về ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh thận đòi hỏi phải xem xét những ca tử vong và tàn tật vì bệnh tim mạch cũng như bệnh thận giai đoạn cuối”.
Các điều tra viên cũng thấy rằng giảm chức năng thận liên quan tới huyết áp cao, đường huyết cao, béo phì/thừa cân.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of American Society of Nephrology.Rối loạn stress sau sang chấn (post traumatic stress disorder -PTSD) là một hội chứng phản ứng cho hành vi bạo lực hay sự kiện chấn động như chứng kiến hành vi tấn công tình dục, tai nạn, ẩu đả...
Rối loạn stress sau sang chấn (post traumatic stress disorder -PTSD) là một hội chứng phản ứng cho hành vi bạo lực hay sự kiện chấn động như chứng kiến hành vi tấn công tình dục, tai nạn, ẩu đả, thảm họa thiên nhiên hoặc cái chết đột ngột của người thân yêu. PTSD có thể cũng xuất hiện ở người có bệnh lý nghiêm trọng và đang được điều trị. Điều trị và can thiệp lâm sàng là cần thiết để hạn chế hình thành bệnh tâm thần và biến chứng, sự cách ly xã hội, trượt dốc dẫn đến rối loạn các chức năng đời sống.
Nguy cơ hình thành PTSD
Tiền sử gia đình có người mắc lo âu, bản thân thời niên thiếu bị lạm dụng, bị chia cắt với cha mẹ từ bé, thiếu sự hỗ trợ xã hội và đói kém, nữ giới, lạm dụng rượu và ma túy, có rối loạn tâm thần trước đó, đặc biệt là mắc trầm cảm trước khi xảy ra sang chấn, có khả năng tiếp tục tiếp xúc với sang chấn, rối loạn giấc ngủ ví dụ chứng mất ngủ và buồn ngủ quá mức vào ban ngày chỉ diễn ra 1 tháng sau sang chấn, cảm giác mất chỗ dựa vào thời điểm xảy ra sang chấn, tăng cường độ phản ứng stress cấp tính, tổn thương não do sang chấn.
Biểu hiện lâm sàng
Cảm giác phiền toái, khó chịu phải thuật lại sang chấn, tái diễn những suy nghĩ, hình ảnh, giấc mơ khó chịu không gạt đi được, tránh gợi nhớ lại sang chấn, tăng cảm giác biệt lập, rối loạn giấc ngủ, bùng nổ cảm giác khó chịu, giận dữ. Khả năng tập trung kém, tăng sự cảnh giác với nguy hiểm. Phản ứng thái quá một cách bất ngờ, cảm xúc lạnh nhạt, các triệu chứng chia tách.Tránh né gợi nhớ những địa điểm, hành động, con người, sống chia tách và cảm xúc thờ ơ, lạnh nhạt. Không thể thực hiện chức năng giao tiếp, xã hội, nghề nghiệp. Kéo dài hàng tháng hay lâu hơn. Mất ngủ, cáu kỉnh, tăng cảnh giác, phản ứng làm lớn chuyện một cách thái quá.
Dễ chẩn đoán nhầm
PTSD có thể được chẩn đoán nhầm và điều trị không phù hợp. Bác sĩ cần nắm được bệnh sử chi tiết để phân biệt PTSD với những tình trạng bệnh khác như là: chấn động và vết thương vùng đầu, sảng, rối loạn co giật, lạm dụng rượu và chất trong tình trạng nhiễm độc cấp hoặc hội chứng cai, rối loạn nhân cách và giả bệnh. Rối loạn ngưng thở, có thể làm tăng lên các triệu chứng PTSD, bao gồm sự bất lực và ác mộng, phản ứng stress cấp. Trong một số trường hợp, đặc điểm phân biệt giữa tình trạng đồng mắc tâm thần và biểu hiện lâm sàng của PTSD trở nên mờ nhạt. Trong những tình huống này tham khảo ý kiến từ phía gia đình và xem xét cả những kênh thông tin khác có thể là cần thiết để phân biệt các triệu chứng PTSD với triệu chứng của các bệnh lý tâm thần đồng mắc.
Điều trị thế nào?
Điều trị PTSD sẽ bao gồm can thiệp bằng thuốc và không dùng thuốc, với việc tăng cường tập trung vào quản lý khủng hoảng và giải quyết vấn đề liên quan các tác nhân stess gần đây.
Điều trị bằng thuốc: Lựa chọn thuốc nào là phụ thuộc vào triệu chứng cụ thể và tình trạng tâm thần đồng mắc đã có từ trước. Liệu pháp hóa dược cho tình trạng đồng mắc tâm thần phải được lựa chọn cẩn thận để liệu pháp bổ sung nhắm tới các triệu chứng PTSD.
Chống trầm cảm: Ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRIs), chống trầm cảm 3 vòng (TCAs) và các thuốc chống trầm cảm khác (thuốc chống trầm cảm không điển hình, MAOIs), các thuốc chỉnh khí sắc có thể được sử dụng cho mục đích điều trị triệu chứng PTSD.
Điều trị không dùng thuốc: Điều trị PTSD đòi hỏi hiểu biết về sinh học, tâm lý học, xã hội và trong một số còn cần sự can thiệp về mặt tôn giáo.
Điều trị trong thời gian dài: Sau 3 tháng đầu tiên tiến trình điều trị, PTSD cấp có thể được điều trị bằng liệu pháp tâm lý nhóm hay cá nhân. Bệnh nhân PTSD mạn nên được theo dõi thường xuyên ít nhất 6 tháng trong đợt điều trị củng cố. Một số bệnh nhân PTSD, đặc biệt có rối loạn tâm thần đồng mắc, còn có nhiều triệu chứng tồn tại trong quãng thời gian dài hơn.
Với bệnh nhân phản ứng stress cấp, bắt buộc dùng thuốc liên tục 6 đến12 tháng trước khi cân nhắc giảm liều dần. Bệnh nhân PTSD mạn có đáp ứng tốt, có thể tiếp tục điều trị 1 - 2 năm và bệnh nhân PTSD mạn có triệu chứng còn lại cần tiếp tục điều trị ít nhất 2 năm. Một số bệnh nhân sẽ phải duy trì cả điều trị thuốc và liệu pháp không dùng thuốc cho một giai đoạn mở rộng trên 2 năm.
Những lưu ý khi tiếp xúc với người bệnh
Tiếp cận một cách lịch sự, tôn trọng và lắng nghe có thể giúp nhìn nhận thực tế, hiểu và giao tiếp tốt với bệnh nhân trong buổi phỏng vấn. Tránh những động tác di chuyển hay tiếng động đột ngột trong buổi phỏng vấn vì nó có thể khiến bệnh nhân nhớ lại một chuyện hay cảm xúc không mong muốn. Điện thoại, báo thức và thiết bị điện tử bao gồm máy tính nên được để chế độ im lặng nếu có thể. Bệnh nhân nên được phép liên hệ các vấn đề của họ theo tốc độ suy nghĩ đang có. Bác sĩ lâm sàng có thể diễn giải, nhắc lại câu chuyện bệnh nhân kể để tìm ra sự thực và diễn đạt những thấu hiểu về khó khăn bệnh nhân đang chịu đựng. Thường thì bệnh nhân nhận thấy họ sẽ thoải mái khi thấy rằng phản ứng của họ đối với sang chấn mạnh đó được người khác thông cảm và họ sẽ không trở nên giận dữ.
| Bài Thuốc Hay |
| Dinh Dưỡng |
| Kiến Thức |
| Mẹ Và Bé |
| Người Cao Niên |
| Sống Khỏe Mạnh |
| Sức Khỏe Nam Giới |
| Sức Khỏe Phụ Nữ |
| Tuổi Dậy Thì |
Nhận xét
Đăng nhận xét